20:33 EDT Thứ năm, 29/09/2022

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 90

Máy chủ tìm kiếm : 59

Khách viếng thăm : 31


Hôm nayHôm nay : 5500

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 196662

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7736355

Biểu mẫu

Cổng thông tin HSSV

Quản lý đào tạo

Thư viện điện tử

Thư viện điện tử

Đánh giá KNN quốc gia

Đánh giá kỹ năng nghề quốc gia

Lịch thi kết thúc MH, MĐ

Lịch thi
Tuyển sinh Daikin

Phần mềm QLVB

Phần mềm QLVB

Sổ tay HSSV

Sổ tay HSSV

Cổng thông tin giảng viên

Cổng thông tin giảng viên

BCEC E-Learning

BCEC E - Learning

Hỗ trợ học sinh sinh viên

Ban cố vấn HSSV

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức nội bộ

Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao tại BCEC theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Thứ ba - 26/07/2022 22:30
    Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, giáo dục và đào tạo luôn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và vun đắp cho nền văn hiến lâu đời của đất nước. Năm 1070 vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám - Trường Đại học đầu tiên ở nước ta. 82 văn bia Tiến sĩ tại khu di tích Văn miếu Quốc Tử Giám còn lưu lại đến ngày nay là minh chứng cho tư tưởng coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và tinh thần hiếu học của ông cha ta. Năm 1484, nơi đây được khắc ghi câu nói nổi tiếng của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp”. Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “non sông Việt Nam có thể trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

    Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ ra: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”… là một trong ba đột phá chiến lược. Như vậy, đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước đã đặc biệt nhấn mạnh về nguồn lực con người, coi đó là động lực cốt yếu, là nội dung đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
Giáo dục không thể tách rời cuộc sống con người, xã hội, nó là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục như là một phương thức của xã hội đảm bảo việc kế thừa văn hoá, phát triển nhân cách.

    Từ thực tiễn lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều khẳng định: Trong cuộc đấu tranh của nước vô sản, công tác giáo dục giữ một vị trí rất quan trọng, nó đào tạo ra những con người phục vụ cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật đổ giai cấp tư sản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Trong tác phẩm được coi là di chúc chính trị “Bàn về chế độ hợp tác”, Lênin viết: “Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: Trước đây chúng ta đã đặt và không thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào cuộc đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền... thì trọng tâm công tác của chúng ta hiện nay quả thật là hoạt động xoáy vào giáo dục”. Theo quan điểm của Lênin thì giáo dục, đào tạo là cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội, muốn thay đổi những điều kiện xã hội phải có một chế độ giáo dục thích hợp.

    Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người”“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”...

    Vận dụng sáng tạo và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới Đảng ta đã hết sức coi trọng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển và khẳng định: “cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và “lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu...”

    Từ khi Việt Nam giành được độc lập năm 1945 đến nay, Đảng ta luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau hơn 35 năm đổi mới, nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao hơn trước, thể hiện rõ nét nhất ở năng suất lao động của toàn xã hội được nâng cao, tạo tốc độ tăng trưởng khá và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, tiềm lực quốc gia. Thể hiện trên một số chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 vẫn đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 mặc dù dịch bệnh Covid19 có ảnh hưởng tới toàn cầu, song nước ta tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu nười tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020.

    Theo báo cáo của Bộ lao động thương binh xã hội, quy mô nguồn nhân lực được mở rộng, lực lượng lao động tiếp tục tăng từ 54,2 triệu người năm 2015 lên 54,6 triệu người năm 2020; cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, tỷ lệ lao động khu vực nông lâm ngư nghiệp giảm từ 45% năm 2015 xuống còn 32% năm 2020. Chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện đáng kể và phù hợp với nhu cầu thị trường. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 51,6% năm 2015 lên khoảng 64,5% năm 2020; trong đó, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 20,29% năm 2015 lên khoảng 24,5% năm 2020. Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng, một số ngành nghề, lĩnh vực đạt trình độ khu vực và quốc tế; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam trong nhóm phát triển cao, đứng thứ 110/189 quốc gia; trong khu vực Đông Nam Á, chỉ số nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đứng sau Singapore. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị luôn duy trì dưới 4%.

    Tuy nhiên, Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ rõ những hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực này, đó là: Đào tạo vẫn thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động… Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội…Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế, thiếu thể chế về tài chính, chuyển giao, ứng dụng, phát triển khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao; thiếu giải pháp đồng bộ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương. Cơ chế và chính sách cán bộ trong hoạt động khoa học - công nghệ còn nặng về hành chính hóa, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài… Bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa đạt yêu cầu; chưa gắn kết chặt chẽ giữa khoa học tự nhiên, khoa học - công nghệ và khoa học xã hội - nhân văn, khoa học lý luận chính trị để phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.

    Thực tế một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi, nhưng kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn, biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó; với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ trí thức xứng tầm; lực lượng công nhân kỹ thuật tay nghề cao, đông đảo và có các doanh nhân tài ba. Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định.

    Về quan niệm, yêu cầu phát triển “nguồn nhân lực” nước ta giai đoạn hiện nay: Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.

    Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực con người được đào tạo và sử dụng có chất lượng, hiệu quả cao với tổng hợp các phẩm chất về nhân cách (tâm lực), năng lực thực hành (kỹ lực) và thể lực. Những tiêu chí cơ bản của nhân lực chất lượng cao là văn hóa, văn hóa nghề nghiệp, đạo đức, nhân cách, trách nhiệm xã hội, ý thức công dân; năng lực tư duy sáng tạo; năng lực tri thức chuyên môn; năng lực thực hành; kỹ năng sống.

    Giữa chất lượng nguồn nhân lực và  nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải thực chất.

Thứ nhất, bảo đảm nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá cho thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030.
Thứ hai, Việt Nam có lực lượng lao động lớn, một mặt, tạo cơ hội cho nền kinh tế có bước phát triển mạnh mẽ, mặt khác, tạo sức ép lớn về giải quyết việc làm và đào tạo nghề nghiệp.
Thứ ba, nhu cầu đào tạo nghề nghiệp của người lao động ngày càng cao hơn cả về số lượng và chất lượng do mức thu nhập ngày càng cao, do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, do quá trình đô thị hoá ngày càng mạnh mẽ, do sự xuất hiện của những ngành, nghề mới, chuyển đổi kinh tế số…
Thứ tư, sự phát triển nguồn nhân lực cần đáp ứng yêu cầu phát triển cân bằng hơn giữa các vùng miền, xuất phát từ yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng để phát triển đất nước. 
Thứ năm, Việt Nam phải có đủ nhân lực để có khả năng tham gia vào quá trình vận hành của các chuỗi giá trị toàn cầu trong xu thế các tập đoàn xuyên quốc gia có ảnh hưởng ngày càng lớn.
Thứ sáu, nguồn nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm; có khả năng đề ra các giải pháp gia tăng cơ hội phát triển trong điều kiện thay đổi nhanh chóng của các thế hệ công nghệ, tương quan sức mạnh kinh tế giữa các khu vực.
Thứ bảy, nhân lực nước ta phải được đào tạo để có khả năng tham gia lao động ở nước ngoài do tình trạng thiếu lao động ở nhiều quốc gia phát triển để phát huy lợi thế của thời kỳ dân số vàng; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu và khu vực.

    Đại hội XIII của Đảng xác định: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục là khâu đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới; tuy nhiên, bối cảnh và yêu cầu phát triển đã khác. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho thấy vai trò trọng tâm của nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung biện pháp. Theo đó, Đại hội nhấn mạnh gắn nội dung phát triển giáo dục và đào tạo với đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế là nội dung rất quan trọng, được thể hiện cụ thể ở năm nội dung cốt lõi cơ bản sau:
Thứ nhất, "Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức. Chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên lực lượng lao động. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động".
Nội dung này vừa có sự kế thừa các đại hội trước, vừa xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như hội nhập quốc tế đó là phải tạo ra được nguồn nhân lực có tay nghề đáp ứng yêu cầu lao động sản xuất. Tuy nhiên, phải gắn đổi mới, nâng cao giáo dục nghề nghiệp với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo. Chất lượng nguồn nhân lực phải được gắn kết với nhiệm vụ thực hiện đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành nghề, cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Điều quan trọng là phải hình thành được đội ngũ lao động lành nghề, có tay nghề cao để nâng cao năng suất, chất lượng công việc. Đào tạo phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, gắn kết chặt chẽ đào tạo với sử dụng nhân lực, không để lãng phí.
Thứ hai, "Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo. Nghiên cứu để hoàn thiện, ổn định hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các cấp học. Chú trọng đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến qua internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, CNTT, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)".
Đại hội XIII của Đảng xác định như vậy là do: hoàn thiện, ổn định hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các cấp học là vấn đề căn bản, cốt yếu của mọi nền giáo dục và thực tiễn cho thấy việc biên soạn sách giáo khoa và chế độ thi cử trong giáo dục của chúng ta những năm qua còn nhiều bất cập, chưa phù hợp, chưa có tính ổn định. Chất lượng sách giáo khoa mới ban hành chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân.
Đội ngũ giáo viên là những "máy cái" của nền giáo dục, nếu đội ngũ này không có trình độ, phương pháp, đạo đức, nhân cách thì không thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo được, nên tất yếu phải chú trọng đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Học trò tốt hay xấu đều do thầy, cô giáo tốt hay xấu. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ nhà giáo trên một số mặt vẵn còn bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục là một nội dung rất quan trọng, đã được đề cập trong nhiều năm qua. Qua thực tế chống đại dịch Covid-19 cho thấy, giáo dục của chúng ta đã chuyển tương đối thành công sang giáo dục trực tuyến. Thực tế đó khẳng định chúng ta có thể đa dạng hóa các hình thức giáo dục phù hợp xu thế thời đại.
Định hướng đào tạo “công dân toàn cầu” mà Đại hội xác định hoàn toàn phù hợp, xuất phát từ yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, nhằm đào tạo nguồn nhân lực để không những đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và còn phục vụ hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nguồn nhân lực của chúng ta không thể đứng ngoài xu thế phát triển chung của nguồn nhân lực thế giới.
Thứ ba, "Thực hiện phổ cập giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học bắt buộc. Đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu, chú trọng xây dựng nền tảng kỹ năng nhận thức và hành vi cho học sinh phổ thông. Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Giảm tỷ lệ mù chữ ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số".
Nội dung thứ ba này rất căn cơ, bài bản, bởi lẽ: đổi mới giáo dục, đào tạo phải bắt đầu từ đổi mới giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học. Trước đây chúng ta thường chú ý nhiều tới đổi mới giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chúng ta không thể xây nhà từ nóc, chăm cây từ ngọn, do vậy tất yếu giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học phải được đặt vào trọng tâm đổi mới.  
Trong nội dung này Đảng ta chú ý quan tâm nhiều tới giáo dục phổ thông với nhiều nội dung nền tảng: kỹ năng số, kỹ năng ngoại ngữ, nền tảng kỹ năng nhận thức. Những nội dung này nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Để nguồn nhân lực của chúng ta có khả năng làm việc được trong môi trường quốc tế. Với chiến lược chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số thì tất yếu kỹ năng số phải được quan tâm chú trọng.
Thực tiễn cho thấy, số người mù chữ ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn cao, tỷ lệ huy động người theo học các lớp xóa mù chữ thấp hơn so với số người còn mù chữ, số người tái mù chữ có chiều hướng gia tăng. Theo kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019 của Ủy ban Dân tộc hiện nay còn 1,98 triệu người chưa biết đọc, biết viết tiếng Việt. Các nhóm dân tộc thiểu số như Mảng, Lự, La Hủ có trên 50% dân số không biết chữ. Do vậy, giảm tỷ lệ mù chữ ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trương đúng đắn.
Thứ tư, "Sắp xếp lại hệ thống trường học; phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo và các đối tượng chính sách. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, hoàn thiện chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập, thực hiện cơ chế tự chủ đối với đào tạo bậc đại học phù hợp với xu thế chung của thế giới, chuyển đổi trường đại học công lập kém hiệu quả sang mô hình hợp tác công - tư. Quy hoạch, sắp xếp lại các trường đại học, cao đẳng; có cơ chế hỗ trợ xây dựng một số trường đại học lớn và đại học sư phạm trở thành những trung tâm đào tạo có uy tín trong khu vực và thế giới".
Nội dung này tập trung vào sắp xếp hệ thống trường học, trong đó có các trường công lập và các trường ngoài công lập, các trường đại học và cao đẳng. Trong khi sắp xếp lại hệ thống trường học, Đại hội XIII của Đảng đã chú ý cả vùng biên giới, hải đảo, các đối tượng chính sách. Như vậy đầy đủ hơn, toàn diện hơn, không bỏ sót đối tượng nào.
Đại hội XII đặt ra nhiệm vụ "Thí điểm chuyển đổi mô hình trường công lập sang cơ sở giáo dục do cộng đồng, doanh nghiệp quản lý và đầu tư phát triển", Đại hội XIII chủ trương chuyển đổi trường đại học công lập kém hiệu quả sang mô hình hợp tác công - tư. Đây là bước phát triển về quan điểm giáo dục đào tạo công lập và ngoài công lập. Thực hiện tốt những nội dung này thì việc sắp xếp hệ thống các trường học mới có hiệu quả và phù hợp tình hình thực tiễn Việt Nam cũng như nắm bắt được xu hướng chung của thế giới.
Thứ năm, "Thực hiện cơ chế tự chủ một số trường phổ thông tại các đô thị lớn, các nơi có điều kiện; thí điểm cơ chế cho thuê một số cơ sở giáo dục sẵn có theo nguyên tắc bảo đảm tất cả học sinh được đến trường. Xây dựng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; thực hiện đào tạo theo nhu cầu của lao động. Đặc biệt, chú ý phát hiện, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, coi trọng dạy, học và sử dụng tiếng Anh. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực".
Nội dung này cũng rất mở cho phát triển giáo dục phổ thông. Đặc biệt lần đầu tiên, Đảng ta xác định lộ trình phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Trên đây là năm nội dung quan trọng thể hiện quan điểm cốt lõi, cơ bản nhất của Đại hội XIII về phát triển giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Nếu thực hiện tốt các nội dung này, chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Nguồn nhân lực chất lượng cao trong GDNN là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức chuyên môn; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc. Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao trong GDNN phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về đạo đức, tình cảm trong sáng.
Khi chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Theo định hướng phát triển nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực GDNN , nhà trường đã tổ chức thực hiện đào tạo các chương trình chất lượng cao,   triển khai thực hiện chuyển giao chương trình từ nước ngoài (Úc và Đức) và thí điểm đào tạo theo các bộ chương trình chuyển giao từ Úc và Đức. Các chương trình đào tạo hiện nay đã được phát triển dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và chuẩn đầu ra. Cấu trúc chương trình đào tạo được xây dựng theo mô đun, tích hợp kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp và thái độ nghề nghiệp..., đảm bảo sự liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo.
Nhà trường đã chủ động đổi mới phương pháp dạy và học, giảm thời gian lý thuyết, tăng thời lượng thực hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy; gắn kết với doanh nghiệp trong đào tạo.
Bên cạnh đó, nhận thức của người dân và xã hội về GDNN nói chung về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đã có chuyển biến.
Công tác quy hoạch mạng lưới trường chất lượng cao, nghề trọng điểm đã thực hiện; kịp thời, làm cơ sở cho việc chuẩn bị, tổ chức đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Đã xây dựng chuẩn đầu ra, xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật; phát triển, thực hiện chương trình đào tạo tiếp cận các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.
Năng lực đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý GDNN đã được nâng cao.
Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo trong các cơ sở GDNN nói chung, trong các trường được quy hoạch thành trường chất lượng cao được đầu tư, cải thiện và từng bước hiện đại; nhiều cơ sở GDNN đã có những nghề đạt tiêu chí kiểm định của Úc, Đức và Tổ chức ABET (Mỹ).
Nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo được đổi mới, thường xuyên cập nhật theo yêu cầu của thị trường lao động.
Chất lượng và hiệu quả GDNN có bước chuyển biến tích cực; kỹ năng nghề nghiệp của người tốt nghiệp các cơ sở GDNN đã được nâng lên nhất là ở các chương trình chất lượng cao.
Bắt đầu hình thành mô hình đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế thông qua các chương trình đào tạo chuyển giao.
Việc tăng cường gắn kết với doanh nghiệp trong tổ chức đào tạo, giải quyết việc làm cho HSSV sau tốt nghiệp bước đầu đi vào chiều sâu, hoạt động hiệu quả.
Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN được đẩy mạnh cả về qui mô, hiệu quả, hình thức và đa dạng hóa về nội dung
Đào tạo nhân lực chất lượng cao tại Trường cao đẳng Cơ điện và xây dựng Bắc Ninh: Trong những năm qua, nhà trường đã luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đặc biệt là nhiệm vụ giáo dục đào tạo. Chất lượng giáo dục đào tạo của Nhà trường không ngừng được nâng lên.
Để đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động trong nước và quốc tế, Đại hội Đảng bộ trường lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2020 - 2025) xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết Đại hội với những nội dung chủ yếu sau:
1. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, vận động mọi người thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nội quy, quy định của nhà trường.
2. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt, Học tốt, Phục vụ tốt”; tích cực tham gia Hội giảng, Hội thi tay nghề, Hội thi thiết bị đào tạo tự làm các cấp; tổ chức tốt phong trào nghiên cứu khoa học, sáng tạo trẻ, sáng kiến kinh nghiệm; đổi mới công tác quản lý, phương thức giảng dạy với phương châm “Phát huy tính sáng tạo của giáo viên và năng lực của người học”; mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng về tự học và sáng tạo; chú trọng công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng mềm, giáo dục thể chất đối với học sinh - sinh viên nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
3. Thực hiện có hiệu quả việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với các phong trào thi đua, cuộc vận động của Ngành, Bộ, Thành phố Bắc Ninh và của Nhà trường.
 4. Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, đặc biệt là ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn hiện nay của xã hội cũng như hội nhập khu vực và quốc tế; tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động giảng dạy của các khoa chuyên môn; thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ công khai trong toàn trường.
5. Tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, công tác phòng chống cháy nổ.
6. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các nghề trọng điểm, nhà ở ký túc xá, nhà ăn cho học sinh, sinh viên; đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục; sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay ODA.
7. Quản lý tốt các nguồn thu, thực hiện chi đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả nhằm đảm bảo an sinh; từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên của nhà trường.
8. Tiếp tục đổi mới công tác thi đua khen thưởng, quan tâm bồi dưỡng, xây dựng phong trào thi đua ở các phòng, khoa chuyên môn, thiết thực, hiệu quả, để từ đó phát hiện nhiều nhân tố mới, điển hình mới trong giảng dạy, trong học tập và trong các hoạt động khác.
9. Nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong Đảng; thực hiện tốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phấn đấu đảng bộ luôn hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hàng năm.
Tóm lại: Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, khoa học - công nghệ,... có mối quan hệ nhân - quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn lực khác và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý; còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác; trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Do đó, trong chiến lược phát triển đất nước, nguồn nhân lực phải được quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực về trí tuệ, ý chí và niềm tin... Nguồn nhân lực có chất lượng cao, với số lượng và cơ cấu hợp lý, giàu trí tuệ, giàu ý chí và khát vọng, có lý tưởng cách mạng soi sáng, sẽ là động lực để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tuyển dụng

Tuyển dụng

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Tổng cục GDNN

Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp

Bộ NN&PTNT

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

BCEC - Nơi niềm tin tỏa sáng

Nơi niềm tin tỏa sáng

Ban liên lạc cựu HSSV

Ban liên lạc cựu HSSV 2021

Đăng ký thi chứng chỉ tin học

Đăng ký thi chứng chỉ UDCNTT

Tuyển sinh đào tạo sơ cấp

Tuyển sinh đào tạo sơ cấp

50 Năm xây dựng và PT

50 năm xây dựng và phát triển
CSDL Quốc gia

CLB tiếng Anh BCEC

CLB tiếng Anh BCEC

Tuyển sinh năm 2022

Thông tin tuyển sinh năm 2022

Đăng ký xét tuyển Online

Đăng ký online 2021